Nhóm Magnificent Seven chỉ chiếm khoảng 35% vốn hóa của S&P 500 nhưng lại chi phối gần một nửa mức biến động của chỉ số này, theo một phân tích vừa công bố. Khoảng cách giữa mức phân tán cổ phiếu trên danh nghĩa của chỉ số gồm 500 công ty và mức phân tán rủi ro thực tế đang ngày càng nới rộng.
Neuberger Berman cho biết trong báo cáo ngày 30 tháng 7 rằng tỷ trọng của Magnificent Seven trong S&P 500 đã tăng từ 11% năm 2015 lên gần 35% trong giai đoạn gần đây. Công ty quản lý tài sản này phân tích thêm rằng 7 cổ phiếu nói trên đóng góp gần một nửa mức biến động chung của chỉ số.
Magnificent Seven gồm Apple(AAPL), Microsoft(MSFT), Alphabet(GOOGL), Amazon(AMZN), Meta(META), Tesla(TSLA) và Nvidia(NVDA). Đây là nhóm cổ phiếu công nghệ vốn hóa siêu lớn của Mỹ, có mức độ tiếp cận sâu vào các ngành tăng trưởng như AI, điện toán đám mây và bán dẫn.
Crypto Briefing đưa tin ngày 11 tháng 8, dẫn phân tích của HDFC TRU, cho biết nhóm cổ phiếu này chiếm khoảng 35% vốn hóa S&P 500 nhưng chiếm tới 58% rủi ro của chỉ số. Tuy nhiên, cách tính và phạm vi dữ liệu dùng để đưa ra con số 58% này không được công bố công khai.
Tỷ lệ rủi ro 58% và mức “gần một nửa biến động” mà Neuberger Berman đưa ra không thể xem là cùng một con số. Mức đóng góp vào rủi ro có thể thay đổi tùy theo giai đoạn tính toán, mức tương quan giữa các cổ phiếu và cách đo lường biến động.
S&P 500 là chỉ số tính theo trọng số vốn hóa thị trường. Vốn hóa của một công ty càng lớn thì tỷ trọng của công ty đó trong chỉ số, cũng như mức độ ảnh hưởng của biến động giá cổ phiếu đó lên toàn chỉ số, càng lớn theo.
Vì vậy, khi các cổ phiếu vốn hóa lớn tăng giá, chỉ một số ít mã có thể kéo cả chỉ số đi lên. Nhưng nếu biến động của chính những mã này gia tăng, mức xáo trộn của toàn chỉ số cũng có thể lớn theo. Số lượng công ty nằm trong chỉ số nhiều không đồng nghĩa với việc rủi ro được phân tán đều.
InvestmentNews đưa tin, tính đến ngày 16 tháng 7, 10 cổ phiếu vốn hóa lớn nhất chiếm 43% vốn hóa của S&P 500, trong đó riêng Magnificent Seven chiếm 33,8%. Tỷ trọng của nhóm 10 cổ phiếu hàng đầu này cao gấp khoảng hai lần mức bình quân lịch sử 18-23% ghi nhận trong giai đoạn 1990-2015.
Tỷ trọng vốn hóa thể hiện quy mô của một cổ phiếu trong chỉ số, còn mức đóng góp vào biến động thể hiện mức độ mà biến động giá của cổ phiếu đó tác động lên toàn bộ chỉ số. Ngay cả khi tỷ trọng vốn hóa như nhau, nếu một cổ phiếu có độ biến động riêng cao và tương quan chặt với các cổ phiếu khác, mức đóng góp vào rủi ro của cổ phiếu đó vẫn có thể lớn hơn.
Ảnh hưởng của nhóm cổ phiếu AI và bán dẫn cũng thể hiện rõ trên thị trường biến động. Sàn giao dịch quyền chọn Chicago (Cboe) cho biết trong báo cáo ngày 20 tháng 7 rằng làn sóng bán tháo cổ phiếu chip đã kéo theo đà giảm của nhóm công nghệ và toàn bộ S&P 500, khiến nhu cầu phòng ngừa rủi ro tăng lên.
Biến động ngụ ý kỳ hạn 1 tháng của quyền chọn chỉ số S&P 500 (SPX) tăng 2,6 điểm chỉ trong một tuần. Biến động ngụ ý kỳ hạn 1 tháng của quỹ ETF theo dõi Nasdaq 100 (QQQ) tăng 3,8 điểm, trong khi ETF ngành bán dẫn SMH tăng 5 điểm, lên mức 59% - cao nhất trong một năm qua.
Biến động ngụ ý là mức dao động giá dự kiến trong tương lai được phản ánh vào giá quyền chọn. Chỉ số này tăng cho thấy nhà đầu tư đang chuẩn bị cho những biến động giá lớn hơn, nhưng bản thân nó không cho biết thị trường sẽ tăng hay giảm.
Diễn biến này cũng có liên hệ với phân tích trước đó của TokenPost cho rằng việc các vị thế quyền chọn S&P 500 tập trung vào một số mức giá thực hiện nhất định có thể khuếch đại biến động thị trường thông qua hoạt động phòng ngừa rủi ro của các nhà tạo lập thị trường. Điều này cho thấy không chỉ mức tăng giảm trên bề mặt chỉ số, mà cả cơ cấu tỷ trọng nội tại và vị thế quyền chọn cũng có thể khuếch đại biên độ biến động thực tế.
Cũng có ý kiến cho rằng không nên xem mức độ tập trung này là tín hiệu rủi ro ngay lập tức. BlackRock, trong tài liệu thị trường công bố tháng 7, nhận định Magnificent Seven từ đầu năm 2026 đến nay có diễn biến kém hơn thị trường chứng khoán nói chung, chỉ riêng Alphabet(GOOGL) vượt được mức sinh lời của S&P 500. BlackRock đánh giá hiện tượng nhóm cổ phiếu dẫn dắt thị trường mở rộng ra là một dấu hiệu “lan tỏa lành mạnh”.
Bình luận: điều này cho thấy tỷ trọng vốn hóa lớn và mức độ rủi ro thực tế không phải lúc nào cũng song hành với nhau, nên nhà đầu tư khó có thể chỉ nhìn vào một con số duy nhất để đánh giá mức độ tập trung.
Nhà đầu tư Việt Nam nắm giữ đồng thời quỹ ETF theo chỉ số Mỹ và quỹ ETF theo Nasdaq hoặc ngành bán dẫn cũng có thể đang chịu mức độ tiếp cận trùng lặp với cùng nhóm cổ phiếu AI vốn hóa lớn. Dù tên sản phẩm khác nhau, nếu các cổ phiếu nắm giữ hàng đầu trùng nhau, mức độ tập trung rủi ro thực tế có thể cao hơn số lượng mã cổ phiếu thể hiện trên danh mục. Vì vậy, nhà đầu tư nên kiểm tra kỹ cơ cấu tỷ trọng của từng sản phẩm trước khi nắm giữ song song.
Bình luận 0